Thành lập công ty liên doanh có vốn nước ngoài trong mảng phân phối thiết bị y khoa

Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng sử dụng nhiều lao động nước ngoài tại Việt Nam, các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động cũng nhận được sự quan tâm đáng kể. Một trong những câu hỏi thường gặp trên thực tế là liệu người lao động nước ngoài có được hưởng trợ cấp thôi việc hay không, đặc biệt khi họ không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các quy định hiện hành về điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc và cách xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc đối với người lao động nước ngoài.

1. Điều kiện hưởng trợ cấp thôi việc đối với người lao động nước ngoài

  • Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019 và khoản 1 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động khi hợp đồng lao động chấm dứt nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
  • Hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật Lao động 2019;
  • Người lao động phải làm việc thường xuyên cho NSDLĐ từ đủ 12 tháng trở lên; và
  • Người lao động không thuộc một trong hai trường hợp: (1) Đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; hoặc (2) Tự ý bỏ việc từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên mà không có lý do chính đáng.

Pháp luật lao động Việt Nam hiện hành hoàn toàn không có bất kỳ điều khoản nào loại trừ người lao động nước ngoài khỏi đối tượng được hưởng trợ cấp thôi việc. Do đó, về mặt nguyên tắc, khi người lao động nước ngoài đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên, doanh nghiệp bắt buộc phải có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho họ.

2. Cách xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc đối với người lao động nước ngoài

Theo quy định pháp luật Việt Nam, người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.1  Trong trường hợp này, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.2
Theo khoản 3 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc cho người lao động nước ngoài được xác định bằng tổng thời gian làm việc thực tế tại Công ty trừ đi thời gian đã được chi trả cùng kỳ lương khoản tiền tương đương mức đóng BHTN. Do đó, việc doanh nghiệp có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chi trả khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp hay không sẽ quyết định trực tiếp đến thời gian được dùng làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc.

2.1 Trường hợp 1: Doanh nghiệp đã chi trả đầy đủ khoản tiền tương đương bảo hiểm thất nghiệp

Nếu doanh nghiệp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng trong toàn bộ thời gian người lao động làm việc, doanh nghiệp đã chi trả cùng kỳ lương khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo đúng quy định pháp luật, thì khoảng thời gian tương ứng sẽ được loại trừ khỏi thời gian tính trợ cấp thôi việc. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có cơ sở để lập luận rằng không phát sinh nghĩa vụ phải chi trả trợ cấp thôi việc đối với khoảng thời gian tương ứng đó (vì thời gian tính trợ cấp sau khi khấu trừ bằng 0).
Tuy nhiên, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý đến nghĩa vụ chứng minh. Các chứng từ như bảng lương, phiếu lương, xác nhận thanh toán, quy chế tiền lương hoặc các tài liệu khác cần thể hiện rõ khoản tiền tương đương bảo hiểm thất nghiệp đã được chi trả cho người lao động.

2.2 Trường hợp 2: Doanh nghiệp chưa chi trả hoặc chi trả không đầy đủ

Nếu doanh nghiệp không thực hiện việc chi trả khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp hoặc không có đủ chứng cứ chứng minh việc chi trả, thì khoảng thời gian tương ứng sẽ không được loại trừ khi tính trợ cấp thôi việc. Khi đó, doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động nước ngoài đối với toàn bộ hoặc một phần thời gian làm việc chưa được bù đắp bằng khoản tiền tương đương bảo hiểm thất nghiệp.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp chưa chi trả hoặc chi trả không đầy đủ khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì có thể đối mặt với các rủi ro pháp lý sau đây:3

Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng (mức phạt áp dụng với tổ chức, tùy thuộc vào số lượng người lao động bị vi phạm)
Buộc người sử dụng lao động trả đủ khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp cộng với khoản tiền lãi của số tiền đó tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.

  • (1) Khoản 1 và khoản 3 Điều 2 Luật Việc làm 2025.
  • (2) Khoản 3 Điều 168 Bộ luật Lao động 2019.
  • (3) Điều 17 và Khoản 3 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM:

Người lao động và Người sử dụng lao động có thể thỏa thuận thanh toán tiền trợ cấp thôi việc trước khi chấm dứt hợp đồng lao động được không?

Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với số tiền thỏa thuận giải quyết tranh chấp sau khi chấm dứt hợp đồng lao động